Đại cương

Chấn thương lồng ngực là loại tổn thương bao gồm cả chấn thương lồng ngực kín và vết thương ngực hở. về nguyên tắc, cả hai loại thương tổn này đều có cách điều trị giống nhau, nghĩa là phục hồi những rối loạn thăng bằng sinh lý hô hấp là chủ yếu và hàng đầu, còn thương tổn giải phẫu đứng hàng thứ yếu vì chỉ có định phẫu thuật rất hạn chế và chặt chẽ.

Những tổn thương giải phẫu và cách điều trị

Gãy xương sườn

Gẫy xương sườn ỉà loại thương tổn rất hay gặp, thường là nhẹ và không để lại di chứng. Điều cốt yếu là phải tìm những thương tổn kèm theo với gãy xương sườn là gì, từ đó mới có cách xử trí thích hợp. Đối với gãy xương sườn ở người già vì đau nên không dám thở, nên để dẫn đến ứ đờm dãi, và xẹp phối. Đối với gẫy xương sườn ở trẻ em, vì xương rất mềm, xốp, khó gẫy, do đó phải có một tác nhân rất mạnh mới có thể làm gẫy xương sườn được, vì vậy thương tổn kèm theo trong lồng ngực thường là nặng… Đối với gẫy xương sườn 7,8,9 cần chú ý tránh bỏ sót vỏ gan (bên phải) và vỡ lách (bên trái).

Nguyên tắc điều trị là làm giảm đau để nạn nhân không bị hạn chế hô hấp. Không nên dùng băng dính to bản để cố định xương sườn gãy, vì làm như vậy sẽ gây hạn chế hô hấp.

Chấn thương lồng ngực

Chấn thương lồng ngực

Mảng sườn

Khi xương sườn gãy 2 nơi trên một cung và 3 xương liên tiếp thì tạo thành 1 mảng sườn. Có khi chỉ gãy một nơi còn phần kia là sụn sườn, người ta gọi là nửa mảng sườn, mảng này sẽ di động theo hình cánh cửa với sụn sườn là bản lề.

Mảng sườn có thể cố định do các đầu gãy cài vào nhau, có thể di động tiên phát do các đầu gãy không cài vào nhau, hay di động thứ phát do các đầu gẫy bật ra khi thay đổi áp lực đột ngột trong khoang màng phổi. Một mảng sườn nếu không di động sẽ dần dần thụt vào bên trong do áp lực âm tính của khoang màng phổi hút vào, để lại di chứng là hạn chế hô hấp.

>> Xem thêm:

Khi có mảng sườn di động cần nhanh chóng cố định lại bằng cách đặt cuộn băng vào vùng mảng sườn, rồi băng vòng quanh ngực, cột để mảng sườn thụt vào không di động nữa, và chuyển ngay nạn nhân về bệnh viện để điều trị thực thụ.

Điều trị thực thụ bao gồm: Hồi sức (truyền máu khi có tràn dịch màng phổi nhiều), hút đờm dãi, giải phóng khoang màng phổi (dẫn lưu máu và khí) và cố định mảng sườn.

Mảng xương di động

Mảng xương di động

Cố định theo 2 phương pháp chính: Cố định giải phẫu (xuyên đinh, kéo tạ liên tục, buộc chỉ thóp nẹp Judet) và cố định sinh lý (đặt nội khí quản, tiêm thuốc giãn cơ, thử máy). Tuỳ từng hoàn cảnh mà chọn những phương pháp thích hợp.

Tràn máu màng phổi

Máu chảy vào khoang màng phổi từ những nguồn sau: Nhu mô phổi, mạch máu thành ngực, mạch máu trung thất.

Nếu số lượng ít có thể tự tiêu và không để lại di chứng, nếu nhiều thì gây chèn ép phổi không cho phổi nở lên, nhiễm khuẩn hay đông lại thành máu cục.

Phải hút ngay và hút hết ngay sau khi đã có chẩn đoán tràn máu màng phổi. Tốt nhất là đặt một ống dẫn lưu cỡ 28-32 Fr qua khoang liên sườn 5,6 đường nách giữa để hút liên tục. Thường chỉ sau 24 giờ là hết chảy và có thể rút ống dẫn lưu. Nếu thấy máu chảy không có xu hướng giảm đi (khoảng 300ml/giờ, trong 3 giờ liền) thì không nên điều trị bảo tồn nữa mà phải mổ lồng ngực cấp cứu để cầm máu. Nếu chỉ bị tổn thương có hơn 1 giờ mà số máu qua ống dẫn lưu tới 500ml thì cũng phải mổ. Ở trẻ con tất nhiên là không thể đợi cho tới khối lượng như trên mới quyết định mà phải xử trí nhanh hơn.

Trong hoàn cảnh không có phương tiện để dẫn lưu hút liên tục thì mới làm chọc hút màng phổi.

Cần chụp X quang. Kiểm tra lồng ngực xem phổi có nở không, trong màng phổi đã hết máu chưa.